Ngày 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm hay còn được gọi với cái tên là Ngày giỗ tổ, Lễ hội Đền Hùng. Ông cha ta xưa có câu:

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”

Đây là một ngày lễ lớn của nhân dân Việt Nam, để mọi người con của đất Việt hướng về cội nguồn. Lễ hội được tổ chức tại Khu du tích lịch sử Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ kéo dài từ ngày 01/3 – 10/3 Âm lịch hàng năm. Lễ hội Đền Hùng được coi là ngày hội truyền thống của dân tộc có ý nghĩa nhân văn sâu sắc: Tưởng nhớ đến các Vua Hùng đã có công dựng nước, hướng về cội nguồn của mỗi con dân Việt Nam. Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là thủy tổ người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng.

Sự tích Bánh chưng, bánh giầy

Từ xa xưa cho đến nay, trong mâm lễ vật cúng dâng lên vua hùng không thể thiếu bánh chưng và bánh giầy. Chẳng biết từ bao giờ 2 loại bánh đặc biệt này đã có vị trí sâu sắc trong tâm thức của người dân Việt Nam – Lễ vật truyền thống Ngày giỗ tổ.

Theo sự tích lịch sử ghi chép để lại, bánh chưng, bành giầy có từ thời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi phá xong giặc Ân. Vua muốn truyền ngôi cho con, nhân dịp đầu xuân, mời hội các con mà bảo rằng: “Con nào tìm được thức ngon lành để bày cỗ có ý nghĩa hay thì ta truyền ngôi cho”.

Ai ai cũng hy vọng mình sẽ được nối ngôi cha vì vật chẳng ngại gian khổ nhiều hoàng tử đã đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên vua cha. Ấy vậy mà lạ thay, Lang Liêu – người con trai thứ 18 của Hùng Vương vốn tính thật thà, hiền lành, hiếu thảo với cha mẹ lại no lắng không biết làm thế nào vì mẹ mất sớm nên người chỉ biết vẽ.

Một hôm, Lang Liêu đang nằm ngủ, mộng thấy có vị thần đến bảo: “Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình trời và đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình cha mẹ sinh thành.” 

Lang Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là bánh chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình trời, gọi là bánh giầỵ Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái.

Cuối cùng, ngày dâng lễ vật lên vua cha cũng đã tới, các hoàng tử bày trên mâm cỗ gồm có các loại sơn hào hảo vị các món ngon vật lạ. Duy nhất chỉ một mình Lang Liêu có bánh chưng, bành giầy 2 thứ bánh lạ mà mọi người chưa nhìn thấy bao giờ. Vua Hùng Vương bèn lại hỏi, thì Lang Liêu đem chuyện thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của bánh chưng, bánh giầy. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi vua lại cho Tiết Liêu con trai thứ 18.

Sự tích trên muốn nhắc nhở con cháu về truyền thống của dân tộc; là lời giải thích ý nghĩa cũng như nguồn cội của
Lễ vật truyền thống Ngày giỗ tổ trong đời sống văn hóa của người Việt.

Còn theo quan niệm dân gian, bánh chưng hình vuông, màu xanh, tượng trưng cho đất, âm. Bánh giầy hình tròn, màu trắng, tượng trưng trời, dương, thể hiện triết lý âm – dương. Hay bánh chưng là âm tượng trưng cho mẹ, bánh giầy là dương tương xứng với cha. Vì thế bánh chưng, bánh giầy – Lễ vật truyền thống Ngày giỗ tổ được dùng để cúng tổ tiên, trời đất thể hiện tấm lòng uống nước nhớ nguồn, biết ơn sâu sắc các Vua Hùng đã có công dựng nước.

Mặc dù, các nhà nghiên cứu văn hóa còn có những quan niệm khác nhau về nguồn gốc, ý nghĩa và biểu trưng của
Lễ vật truyền thống Ngày giỗ tổ, song cũng phải khẳng định rằng hai loại bánh này có từ lâu đời, gắn với tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng của người Việt.

Theo thống kê chưa đầy đủ của các nhà nghiên cứu, trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam hiện có trên 1.400 địa điểm có đến thờ cúng các Vua Hùng. Trong đó, mỗi địa phương, tỉnh, thành đều tổ chức nghi lễ dâng cúng Quốc tổ. Bánh chưng, bánh giầy là lễ vật không thể thiếu. Bên cạnh đó, những người con đất Việt từ nam ra bắc, mở hội thi gói bánh chưng, giã bánh giầy. Có nơi thi gói bánh chưng, giã bánh giầy, có địa phương thi nấu và trình bày bánh chưng, có thành phố làm bánh chưng đạt kỷ lục Việt Nam. Những hoạt động phong phú đa dạng này làm tăng phần sôi nổi và nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của một ngày Quốc lễ .

Không chỉ đơn giản là một món ăn truyền thống, các công đoạn chuẩn bị, chế biến và trình bày còn thể hiện sự thành kính tạo ra lễ vật dẻo thơm dâng cúng vua Hùng và các bậc tiền nhân.

Hướng dẫn cách làm Bánh chưng, bánh giầy

Theo kinh nghiệm cha ông truyền lại, muốn làm bánh chưng thơm ngon phải làm từ loại gạo nếp có hạt to, tròn, dẻo và thơm hương. Ngoài gạo nếp, nguyên liệu để làm bánh chưng còn có lá dong, đỗ xanh, hành củ và thịt lợn. Đỗ xanh thường được chọn công phu, tốt nhất là loại đỗ trồng ở vùng đồi trung du. Gạo nếp sau khi đã được ngâm và xóc muối, được đổ vào khuôn lót lá dong, cho nắm đỗ đã đồ chín, rồi đặt miếng thịt đã ướp hạt tiêu, hành củ vào giữa, phủ lên lớp đỗ và lớp gạo sau đó gói lại bằng lạt giang, mỏng, mềm và dẻo dai. Khi luộc được nửa thời gian thì phải vớt bánh ra rửa qua nước lạnh, thay nước toàn bộ nồi bánh rồi nấu tiếp, bánh sẽ xanh, rền và ngon. 

Còn làm bánh giầy cũng phải chọn gạo. Hạt gạo nếp thơm ngon được đồ chín, đổ vào cối giã nhuyễn khi hơi cơm vẫn nghi ngút bốc lên. Những hạt nếp đồ xoắn xít vào nhau. Cơm nếp càng giã kỹ càng dẻo, tạo thành bột trắng mịn, còn nóng vo tròn xếp vào lá dong. Dùng tay vắt thành từng cục bột nhỏ, nặn tròn tròn rồi ấn bẹp xuống.

Hai loại bánh tưởng như vô cùng đơn giản đó lại gói ghém trong mình cả giá trị văn hóa, triết lý nhân sinh của nền văn hóa Việt, cũng như gửi gắm lời nguyện cầu và cũng là niềm tin vào quốc thái dân an, mùa màng bội thu, ấm no, hạnh phúc.

Có thể nói, từ những hạt gạo thơm tinh túy của đất trời, với bàn tay của người Việt đã tạo nên những chiếc bánh mang đậm hương vị truyền thống, vừa đẹp mắt, vừa thơm ngon dâng cúng các Vua Hùng, bày tỏ lòng thành kính biết ơn sâu sắ ccủa chính quyền và nhân dân Thành Phố.

Tags: